ALIX AYMÉ (1894-1989)

Lot 1
Aller au lot
40 000 - 60 000 €
Résultats avec frais
Résultat : 50 700 €

ALIX AYMÉ (1894-1989)

Les premiers pas
Encre et couleurs sur soie, signée en bas à droite
51 x 38 cm - 20 1/16 x 14 15/16 in.

Ink and color on silk, signed lower right

PROVENANCE
Collection d’un ancien professeur de Philosophie à l’EFEO dés les années 1920 à Hanoï, et de son épouse, amis de l’artiste.
Rapporté à Marseille en 1946 et transmis familialement depuis

Cette œuvre d’Alix Aymé fige sur la soie les premiers pas d’un jeune enfant, entouré par les femmes de sa famille. La petite enfance et les liens entre les enfants et leur mère sont des thématiques récurrentes et particulièrement appréciées par Alix Aymé. Elle se délecte de représenter ces scènes intimes empruntes de douceur et de tendresse.

Ici aussi cette relation entre la mère et son enfant est rendue avec virtuosité grâce à une composition qui oppose les lignes courbes et les lignes droites. L’enfant est le centre de l’attention des protagonistes mais aussi du spectateur, il se tient debout sur un meuble carré tel un piédestal, et pourtant il n’est pas au centre de l’œuvre d’un point de vue pictural. Le décor de la pièce est figuré par des lignes droites et parallèles, ce qui permet de mettre en relief les courbes des corps de trois jeunes femmes qui se tournent toutes vers cet enfant, la répétition de ce même mouvement amplifie l’importance accordée à ce jeune héros. Les jeux de regards sont importants aussi et participent à repousser ce petit enfant vers le devant de la scène. Elles font toutes trois dos au jardin, créant une impression de rempart entre cet enfant chéri et le monde extérieur.
Cela plonge le spectateur dans cette atmosphère feutrée et chaleureuse du quotidien familial et figure la protection du petit par sa mère. Cette relation, ce lien maternel devient donc l’essence même, le véritable sujet de cette peinture sur soie.

L’immense talent de l’artiste réside dans la fusion réussie entre la culture artistique européenne et sa passion pour le Vietnam. Cette peinture sur soie en particulier est à la croisée des chemins. Alix Aymé utilise la technique traditionnelle vietnamienne de la peinture sur soie et a croqué sur le vif le quotidien de cette famille au Vietnam, pourtant le traitement de cette scène, son regard est très occidental. En effet, cette intimité chaleureuse, la perspective en plongée, le cadrage resserré et le traitement du décor ne sont pas sans rappeler les scènes de genre Nabis. Il ne faut pas oublier l’importance de l’influence de Maurice Denis dans la peinture d’Alix Aymé qui était son élève. Alix Aymé s’inscrit donc dans cette nouvelle génération d‘artistes français qui réinterprète la scène de genre. Genre qui a été pendant plusieurs siècles, considéré par l’Académie comme secondaire. Alix Aymé lui rend alors ses lettres de noblesse avec beaucoup de poésie et le déplace en Orient.

This work by Alix Aymé captures on silk the first steps of a small child, surrounded by the women of the family.

Early childhood and the relationship between mothers and children were recurring themes Alix Aymé particularly liked. She took genuine delight in representing these sweet, intimate scenes full of tenderness.

Here the connection between mother and child is brilliantly rendered in a composition contrasting curved and straight lines. The child is the focus of not only the protagonists’ but also the viewers’ attention. He is standing on a square piece of furniture like a pedestal, and yet is not in the centre of the picture, visually speaking. The decoration of the room is delineated in straight parallel lines, accentuating the curved forms of the three young women all turning towards the child, and the repetition of this movement enhances the importance of the young hero. The play between their gazes is also significant, helping to cast the limelight on the child. All three women have their backs to the garden, creating the impression of a rampart between this cherished baby and the outside world. This immerses the viewer in the warm, cosy atmosphere of everyday family life, and shows how the infant is protected by his mother. This relationship and maternal connection thus become the very essence and true subject of this painting on silk.

The artist’s immense talent lay in her successful blend of European artistic culture and her passion for Vietnam. This particular painting on silk lies at the meeting point of the two worlds. Alix Aymé uses the traditional Vietnamese silk painting technique to depict an everyday Vietnamese family scene from life, and yet her view and treatment of this scene is extremely Western.

This is because the warm intimacy, high-angle perspective, tight composition and treatment of the surroundings are highly reminiscent of Nabi genre scenes. Maurice Denis had a considerable influence on his pupil Alix Aymé. She became part of the new generation of French artists who gave new life to the genre scene – one considered minor for centuries by the French Academy. Alix Aymé established its pedigree in a beautifully poetic style, and shifted it to the East.

Tác phẩm này của Alix Aymé khắc họa lại trên lụa những bước đi đầu tiên của một đứa trẻ, và xung quanh là những người phụ nữ trong gia đình bé.

Thời thơ ấu và mối liên kết giữa trẻ em và người mẹ là các chủ đề thường thấy và được Alix Aymé đặc biệt ưa thích. Bà thích thú trong việc thể hiện những cảnh thân mật xoay quanh sự mềm mại và dịu dàng.

Ở tác phẩm này cũng vậy, mối quan hệ giữa người mẹ và đứa con được thể hiện một cách tài tình nhờ bố cục đối lập với các đường cong và đường thẳng. Đứa trẻ không chỉ là trung tâm chú ý của các nhân vật chính mà còn là khán giả, bé đứng trên một đồ vật nội thất vuông như bệ, nhưng đứa trẻ không phải là trung tâm của tác phẩm từ góc nhìn của bức tranh. Phối cảnh của bức họa được thể hiện bằng các đường thẳng và song song, giúp làm nổi bật các đường cong của cơ thể của ba người phụ nữ trẻ, tất cả đều quay sang đứa trẻ, sự lặp lại của cùng một chuyển động này khuếch đại tầm quan trọng của đứa trẻ. Những ánh nhìn cũng rất quan trọng và giúp đứa trẻ nổi bật ra phía trước khung cảnh. Cả ba người phụ nữ đều quay lưng lại với khu vườn tạo ấn tượng về thành lũy giữa đứa trẻ yêu dấu này và thế giới bên ngoài. Điều này khiến người xem chìm đắm vào bầu không khí ấm cúng và ấm áp của cuộc sống gia đình và cho thấy sự bảo vệ của người mẹ đối với trẻ. Mối quan hệ này, tình mẫu tử thiêng liêng do đó trở thành chính bản chất, chủ đề thực sự của bức tranh trên lụa này.

Tài năng tuyệt vời của người nghệ sĩ thể hiện ở sự hòa quyện thành công giữa văn hóa nghệ thuật châu Âu của nghệ sĩ và niềm đam mê của bà đối với Việt Nam. Bức tranh này trên lụa nói riêng là một sự giao thoa. Alix Aymé sử dụng kỹ thuật vẽ tranh lụa truyền thống của Việt Nam và phác họa cuộc sống của gia đình này ở Việt Nam, tuy nhiên cách xử lý cảnh này của bà có màu sắc rất Tây.

Thật vậy, sự thân mật ấm áp này, cảnh góc cao, khung hình bị hạn chế và cách xử lý phối cảnh gợi nhớ đến những tác phẩm sinh hoạt của Nabis. Thật vậy, chúng ta không được quên tầm quan trọng của ảnh hưởng của Maurice Denis trong bức tranh của Alix Aymé, học trò của ông. Do đó, Alix Aymé là người thể hiện lại các tác phẩm tranh sinh hoạt trong thế hệ nghệ sĩ Pháp mới. Chủ đề sinh hoạt đã tồn tại nhiều thế kỷ, không được Viện hàn lâm coi trọng. Alix Aymé sau đó mang lại cho thể loại này sự quý phái của mình với những thi vị với sự chuyển hướng đến Phương Đông.

ALIX AYMÉ

Alix Aymé est née le 21 mars 1894 à Marseille. En 1909, elle entre au conservatoire de musique de Toulouse. En 1916, elle séjourne dans un pensionnat en Angleterre puis gagne Paris. Elle fait son apprentissage auprès de Desvallière et surtout de son maître Maurice Denis, membre du groupe des Nabis avec lequel elle participe au décor du théâtre des Champs-Elysées. Avec son amie Valentine Reyre, elle travaille aux ateliers d’Art Sacré de Maurice Denis et réalise de nombreux bois gravés pour illustrer plusieurs ouvrages.
En 1920, elle épouse Paul de FautereauVassel, un professeur qui vient d’obtenir un poste à la mission franco-chinoise de Shanghai. Ils partent pour la Chine, puis s’établissent en 1921 à Hanoï où elle enseigne le dessin au Lycée technique de la ville. Parallèlement, elle envoie des œuvres en France qui seront exposées dans les salons et à l’exposition coloniale. En 1926, nait son premier fils Michel. D’après des croquis fait à Ceylan, elle illustre également une édition de luxe de Kim de Rudyard Kipling. Elle se sépare de son mari en 1928.
À la même époque, elle enchaîne plusieurs expositions à Hanoï et réalise de nombreux voyages en Asie. Elle illustre également par des bois gravés, le Livre de Job et Le diable par la queue de Cazotte. Aymé expose également en France à la Société Coloniale des Artistes Français.

En 1930, elle est chargée par le gouvernement d’une mission de repérage au Laos en vue de préparer l’exposition coloniale de 1931. Elle est conquise par le charme du pays où elle exécute une quarantaine de toiles destinées à décorer le Pavillon du Laos. Résidant à Luang-Prabang, elle se lie d’amitié avec la famille royale qui la charge de réaliser une vaste décoration illustrant les traditions de ce pays pour la salle de réception du Palais Royal. Elle voyage dans le Haut Laos et en Chine dans le Yunnan d’où elle ramènera de nombreux dessins et tableaux. Au Japon, elle étudie l’art de la laque. À son retour au Vietnam, elle est nommée Professeur au lycée Albert Saraute, aux côtés d’Inguimberty, et sous la direction de Victor Tardieu pour enseigner la technique de la laque dont elle est devenue spécialiste.

En 1931, elle épouse à Paris en deuxième noce le général Georges Aymé, frère de l’écrivain Marcel Aymé. Maurice Denis et Valentine Reyre sont ses témoins. Parallèlement, elle participe activement à l’exposition coloniale où ses œuvres sont exposées. De retour en Asie, tout en continuant d’enseigner, elle voyage en Corée, au Japon, au Cambodge et au Laos. Son travail s’ouvre à de nouvelles techniques telles l’eau forte, la peinture sur soie avec application d’or, l’aquarelle, l’encre noire, le sous-verre, la tempera, et la laque, technique particulièrement chère à ses yeux.
Cependant elle reste en contact avec la France et envoie régulièrement des œuvres qui sont exposées dans divers salons comme le Salon des artistes français, le Salon d’hiver, le Salon des décorateurs ou encore dans des galeries. De retour en France au début de la guerre en 1939, elle suit le général Aymé à Djibouti, puis à Hanoï, où elle vit tragiquement la guerre d’occupation japonaise. Après le coup de force des japonais du 9 mars 1945, le couple subi une dure captivité jusqu’à la capitulation du Japon en août 1945. Ils rentrent alors définitivement à Paris où le général Aymé meurt en 1950 des suites de sa captivité.

S’en suit la commande de grands panneaux de laque pour le paquebot transatlantique Antilles et de nombreuses expositions à Paris, en province, ainsi qu’au Maroc, en Italie et en Algérie. Elle réalise un chemin de croix en bois laqué pour la chapelle de Notre-Dame de la Délivrance à Douvres (Calvados). Elle décore l’appartement de Bao-Daï.
Amie de Foujita et de Saint Exupéry, elle fréquente les milieux intellectuels, littéraires et artistiques parisiens où s’exprime son esprit ouvert, vif, libre et curieux.
Elle continue à voyager sans jamais se séparer de ses carnets de croquis. À 68 ans, Alix Aymé part au Congo pour un séjour de huit mois. Infatigable créatrice, elle travaille le dessin et la laque jusqu’aux derniers jours de sa vie.
Elle meurt à Paris en 1989, le jour de ses 95 ans. Son œuvre est une synthèse de tous ses voyages et de sa découverte de l’Asie, tout en restant profondément attachée à ses racines françaises. En effet, sa production s’inspire de l’art occidental notamment l’Art Déco et la modernité des Nabis, tout en étant nourrie par la peinture traditionnelle vietnamienne et empruntant également aux laques japonaises pour les fonds ou les larges aplats dorés.

Alix Aymé was born on 21 March 1894 in Marseille. In 1909, she entered the Toulouse music conservatory. In 1916, she attended an English boarding school, then went to Paris, where she studied with Desvallière and above all her mentor, Maurice Denis, a member of the Nabi group, with whom she collaborated on the interior design of the Théâtre des Champs-Elysées. She worked with her friend Valentine Reyre in Maurice Denis’ Studios of Sacred Art, and illustrated several books a with a large number of engravings.
In 1920, she married Paul de Fautereau-Vassel, a teacher recently appointed at the Franco-Chinese mission in Shanghai. They set off to China, then moved in 1921 to Hanoi, where she taught drawing at the city’s technical high school. At the same time she sent works back to France, which were exhibited at salons and the Colonial Exhibition. In 1926 she gave birth to her first son, Michel. She also illustrated a luxury edition of Rudyard Kipling’s Kim using sketches done in Ceylon. She and her husband separated in 1928.
During the same period, she had several consecutive exhibitions in Hanoi and travelled extensively in Asia. She produced woodcut illustrations for the Book of Job and Cazotte’s Le diable amoureux, and also exhibited in France at the Société Coloniale des Artistes Français.
In 1930, the government tasked her with finding a location in Laos for the Colonial Exhibition of 1931. She was totally enchanted by the country, and painted some forty pictures to decorate the Laos Pavilion at the exhibition. She lived in Luang-Prabang, and became friends with the royal family, who commissioned a huge decorative piece from her (over 100 m2), illustrating the traditions of Vietnam, for the reception hall of the royal palace.
She travelled in Upper Laos and the Yunnan region in China, from which she brought back numerous drawings and paintings, and studied the art of lacquer in Japan. On her return to Vietnam, she was appointed teacher at the Albert Saraute lycée alongside Inguimberty, under Victor Tardieu, to teach the lacquering technique, in which she now specialised.
In Paris, in 1931, she married her second husband Georges Aymé, brother of the writer Marcel Aymé. Maurice Denis and Valentine Reyre were their witnesses. At this period, she also took an active part in the Colonial Exhibition, where her work was on show. On her return to Asia, while continuing to teach, she travelled in Korea, Japan, Cambodia and Laos. She embraced new techniques like etching, painting on silk with the application of gold, watercolours, black ink, reverse glass painting, tempera and above all, her beloved lacquering.
However, she remained in contact with France and regularly sent back works, which were exhibited in various salons (the Salon des Artistes Français, the Salon d’Hiver and the Salon des Décorateurs) as well as in galleries. On her return to France at the start of the war in 1939, she followed General Aymé to Djibouti, then to Hanoi; where she had a tragic experience of the Japanese occupation during the war. After the Japanese seized the country by force on 9 March 1945, the couple were imprisoned in appalling conditions until Japan capitulated in August 1945.
They returned to live permanently in Paris, where General Aymé died in 1950 as a result of his treatment in captivity.
After this, she received a commission for a set of large lacquer panels for the Antilles, the transatlantic liner, and exhibited frequently in Paris and the provinces as well as in Morocco, Italy and Algeria. She created a Stations of the Cross series in lacquered wood for the Chapel of Notre-Dame de la Délivrance in Douvres (Calvados), and decorated Emperor Boa-Dai’s apartment.
A friend of Foujita and Saint-Exupéry, she moved in Parisian intellectual, literary and artistic circles, giving rein to her lively, liberated, open and curious mind. She continued to travel, always with her sketchbooks in hand. At 68 she set off for the Congo, where she stayed for eight months. Tirelessly creative, she drew and did lacquer work to the end of her life.
She died in Paris in 1989, on her 95th birthday. Her work encapsulated all her travels and feelings for Asia, while remaining deeply rooted in her French culture. Her style was inspired by Western art, particularly Art Deco and the modernism of the Nabis, while nourished by traditional Vietnamese painting. She also borrowed from Japanese lacquers in terms of their backgrounds and broad flat areas in gold.

Alix Aymé sinh ngày 21 tháng 3 năm 1894 tại Marseille. Năm 1909, bà theo học tại nhạc viện của thành phố Toulouse. Năm 1916, bà ở lại một trường nội trú ở Anh và sau đó đến Paris. Bà đã học nghề với Desvallière và đặc biệt là giáo viên Maurice Denis, một thành viên của nhóm Nabis, người đã cùng bà tham gia bài trí cho nhà hát Champs-Elysées. Cùng với người bạn Valentine Reyre, bà làm việc tại các xưởng nghệ thuật của Maurice Denis và sáng tạo ra nhiều bản khắc gỗ để minh họa cho một số cuốn sách.
Năm 1920, bà kết hôn với Paul de Fautereau-Vassel, một giáo sư vừa nhận được công việc tại Phái bộ Pháp-Trung ở Thượng Hải. Họ đến Trung Quốc, sau đó định cư tại Hà Nội vào năm 1921, nơi bà dạy vẽ tại Trường Trung học Kỹ thuật của thành phố. Đồng thời, bà gửi các tác phẩm đến Pháp và được trưng bày trong các tiệm và tại triển lãm thuộc địa. Năm 1926, bà sinh con trai đầu lòng Michel. Theo các bản phác thảo được thực hiện tại Ceylan, bà cũng minh họa cho bản loại sang của tác phẩm Kim của Rudyard Kipling. Bà ly thân với chồng năm 1928.

Đồng thời, bà đã đi một số triển lãm tại Hà Nội và thực hiện nhiều chuyến đi đến châu Á. Bà cũng vẽ tranh minh họa bằng gỗ khắc cho le Livre de Job và Le diable amoureux de Cazotte. Aymé cũng thực hiện triển lãm ở Pháp tại Hội Nghệ sĩ thuộc địa Pháp.

Năm 1930, bà được chính phủ giao nhiệm vụ quan sát tại Lào để chuẩn bị cho triển lãm thuộc địa năm 1931. Bà bị chinh phục bởi vẻ đẹp của đất nước và tại đây đã thực hiện khoảng bốn mươi bức tranh vải được thiết kế để trang trí cho Gian hàng của Lào tại triển lãm thuộc địa. Cư trú tại Luông Pha Băng, bà trở thành bạn với hoàng gia, người đã ủy thác cho bà thực hiện công trình trang trí lớn minh họa truyền thống của đất nước này (hơn 100 m2) cho sảnh tiếp tân của Cung điện Hoàng gia.
Bà đi đến Thượng Lào và Trung Quốc đến Vân Nam, nơi bà đã mang về nhiều bức vẽ và tranh. Ở Nhật Bản, bà học nghệ thuật sơn mài. Khi trở về Việt Nam, bà được bổ nhiệm làm giáo sư tại Lycée Albert Saraute, cùng với Inguimberty, và dưới sự chỉ đạo của Victor Tardieu để dạy kỹ thuật sơn mài mà bà là một chuyên gia. Năm 1931, bà kết hôn lần thứ hai tại Paris với Tướng Georges Aymé, anh em trai của nhà văn Marcel Aymé. Maurice Denis và Valentine Reyre là nhân chứng cho việc kết hôn. Đồng thời, bà tích cực tham gia triển lãm thuộc địa, nơi các tác phẩm của bà được trưng bày.
Trở lại châu Á, trong khi tiếp tục giảng dạy, bà đến Hàn Quốc, Nhật Bản, Campuchia và Lào. Tác phẩm của bà luôn rộng mở với các kỹ thuật mới như khắc axit, vẽ lụa với vàng, màu nước, mực đen, vẽ ngược trên kính, màu keo và sơn mài, một kỹ thuật đặc biệt thân thương với bà. Tuy nhiên, bà vẫn giữ mối liên hệ với Pháp và thường xuyên gửi các tác phẩm được trưng bày trong các triển lãm khác nhau như Phòng nghệ sĩ Pháp, salon d’hiver, Phòng trang trí hoặc thậm chí trong các phòng trưng bày. Trở về Pháp khi bắt đầu cuộc chiến năm 1939, bà theo Tướng Aymé tới Djibouti, sau đó đến Hà Nội, nơi bà bi thảm chứng kiến cuộc chiến tranh chiếm đóng của Nhật Bản. Sau cuộc đảo chính của người Nhật ngày 9/3/1945, cặp vợ chồng phải chịu cảnh giam cầm cực khổ cho đến khi Nhật Bản đầu hàng vào tháng 8 năm 1945. Cuối cùng họ trở về Paris, nơi Tướng Aymé chết năm 1950 do bị giam cầm.

Tiếp theo đó là các đơn đặt hàng cho các tấm sơn mài lớn cho tàu thủy xuyên Đại Tây Dương Antilles và nhiều triển lãm ở Paris, ở các tỉnh, cũng như ở Morocco, Ý và Algeria. Bà đã làm một cây thánh giá bằng gỗ sơn mài cho nhà nguyện Notre-Dame de la Délivrance à Douvres (Calvados). Bà trang trí căn hộ của Boa-Dai. Là một người bạn của Foujita và Saint-Exupéry, bà tham dự giới trí thức, văn học và nghệ thuật Paris, nơi bà thể hiện tâm hồn cởi mở, sống động, tự do và tò mò. Bà tiếp tục đi du lịch mà không bao giờ rời khỏi quyển sổ phác thảo của mình. Năm 68 tuổi, Alix Aymé tới Congo và ở lại tám tháng. Là một người nghệ sĩ sáng tạo không ngừng, bà vẽ tranh và sơn mài cho đến những ngày cuối đời.

Bà mất ở Paris năm 1989 khi 95 tuổi. Tác phẩm của bà là tổng hòa của tất cả các chuyến đi và khám phá châu Á của bà, trong khi vẫn gắn bó sâu sắc với cội nguồn Pháp. Thật vậy, sản phẩm của bà được lấy cảm hứng từ nghệ thuật phương Tây bao gồm Art Deco và vẻ hiện đại của Nabis, và cũng được nuôi dưỡng bởi hội họa truyền thống Việt Nam và chịu ảnh hưởng của cả tranh sơn mài Nhật Bản về phông nền hoặc những mảng màu vàng.
Mes ordres d'achat
Informations sur la vente
Conditions de ventes
Retourner au catalogue